|
Tên sự cố |
Rối loạn quá trình keo tụ – tạo bông và lắng hóa lý gây sốc tải phần xử lý vi sinh dẫn đến nước thải đầu ra không đạt |
|
Dấu hiệu nhận biết |
- Bể hóa lý keo tụ tạo bông không tạo bông bùn - Nước sau lắng hóa lý vẫn đục, có màu keo milky. - Tầng bùn lắng không rõ ràng, lẫn lộn với nước. - COD sau lắng chỉ giảm < 20% so với đầu vào. - Nồng độ Al/Fe dư cao trong nước vào CAS (> 2–5 mg/L). - Bùn CAS bị đen, chết hoặc không hoạt động sau khi tiếp nhận nước từ lắng hóa lý. |
|
Thông số nước thải đầu ra có khả năng vượt quy chuẩn QCVN40:2025/BTNMT |
- TSS > 50 mg/L (do keo tụ kém) - COD > 80 mg/L - Tổng P > 4 mg/L (sông) hoặc > 2 mg/L (hồ) - pH có thể < 5 hoặc > 9 nếu dư hóa chất trung hòa - Tổng N > 25 mg/L (nếu CAS bị ức chế sau đó) |
|
Quy trình công nghệ |
Đầu vào → Song chắn rác → Bể điều hòa → Keo tụ tạo bông (PAC/Polymer) → Lắng hóa lý → Bể hiếu khí Aerotank (CAS) +Anoxic → Bể lắng vi sinh → Khử trùng (Cl/UV) → Xả thải |
|
Mã hiệu tài liệu |
AquaEdu-QT-XLSC-CAS-003-2026 |
Tại bể keo tụ tạo bông (Chemical Coagulation & Flocculation), phản ứng tạo bông bị gián đoạn hoặc không hình thành do:
- pH nước nằm ngoài vùng tối ưu 6.5–7.5;
- liều lượng PAC (Poly Aluminium Chloride) không đủ để trung hòa điện tích và kết tủa phosphat;
- liều lượng polymer quá cao tạo bông xốp, dễ vỡ, khó lắng.
Hệ quả là TSS, COD và Tổng P không được loại bỏ hiệu quả trước khi vào bể hiếu khí. Trường hợp nặng, hóa chất dư thừa (Al³⁺, Fe³⁺) hoặc pH cực đoan (< 5.5 hoặc > 9.0) theo dòng nước vào Aerotank, gây độc, làm chết vi sinh vật, dẫn đến sụp đổ toàn hệ thống xử lý.
Thanh toán 1 lần học trọn đời